Tôi đã đọc nhiều bản chào giá “thi công phòng sạch nhà máy thực phẩm”. Gần như bản nào cũng có ba dòng giống nhau: cấp sạch ISO 8, chênh áp 10–15 Pa, lọc HEPA cho toàn xưởng. Đọc kỹ thì ba con số đó không đến từ tiêu chuẩn an toàn thực phẩm nào. Chúng đến từ nhà máy dược. Tiêu chuẩn mà người mua châu Âu hay đòi nhất ở nhà máy thực phẩm, BRCGS Food Safety Issue 9, không có một con số đếm hạt bụi nào. Nó hỏi một câu khác: sản phẩm của anh chị rủi ro tới đâu, và vùng nào trong xưởng phải được bảo vệ.
Ngắn gọn: nhà máy thực phẩm cần phân vùng theo rủi ro của sản phẩm, không cần một phòng sạch kiểu dược cho cả xưởng. BRCGS Issue 9 chỉ đòi không khí lọc và áp dương cho vùng high-risk, thông số do nhà máy tự đánh giá. Mức chênh áp tối thiểu 10 Pa và bảng đếm hạt là của GMP dược EU (Annex 1, 2022).
Tóm tắt nhanh
- BRCGS Issue 9 chia xưởng thành vùng sản phẩm hở (high-risk, high-care, ambient high-care, low-risk), vùng sản phẩm kín và vùng không có sản phẩm. Vùng nào áp dụng được quyết định bằng định nghĩa ở Phụ lục 2, không bằng mong muốn của chủ đầu tư.
- Phần lớn dây chuyền trái cây cô đặc, puree chiết vô trùng là quá trình kín. Rủi ro nằm ở đầu chiết, không nằm ở không khí của cả phòng.
- Đầu tư thừa thường gặp: làm “phòng sạch” cho cả xưởng thay vì chỉ đoạn sau bước diệt khuẩn; mua cấp lọc của dược; xây phòng đẹp nhưng để cống, luồng người và chỗ thay đồ đi ngược nhau.
- Đầu tư thiếu thì mất chứng nhận: bố trí mặt bằng, luồng sản phẩm và phân tách (mục 4.3) là yêu cầu cơ bản của BRCGS, vi phạm ở mục này là không được cấp chứng nhận.
Phòng sạch thực phẩm là gì? Tiêu chuẩn thực phẩm không dùng chữ này
Chữ “phòng sạch” có định nghĩa rõ trong ngành dược. Phụ lục 1 của GMP EU, bản ban hành ngày 22/08/2022, chia phòng sạch thành bốn cấp A, B, C, D theo số hạt bụi trong một mét khối không khí. Cấp thấp nhất, cấp D, cho phép tối đa 3.520.000 hạt từ 0,5 µm trở lên trong mỗi mét khối khi phòng nghỉ. Điểm 4.14 của văn bản ghi: các phòng kề nhau khác cấp nên có chênh áp tối thiểu 10 Pa, và văn bản tự gọi đó là “giá trị hướng dẫn”.
Tiêu chuẩn thực phẩm đi đường khác. BRCGS Issue 9 (tháng 8/2022) yêu cầu ở điều 4.3.1 rằng nhà máy phải tự đánh giá các vùng rủi ro sản xuất cần có, dùng định nghĩa ở Phụ lục 2. Điều 4.3.2 yêu cầu một bản đồ mặt bằng thể hiện các vùng đó, cửa ra vào của người, của nguyên liệu, của bao bì, và đường đi của người. Không có bảng hạt bụi. Không có con số pascal.
Sổ tay thiết kế nhà máy thực phẩm của Springer (2013) cũng dùng cách chia tương tự. Phần lớn xưởng là khu chuẩn bị nguyên liệu và khu chế biến, rồi tới “khu sạch” nơi thực phẩm đã qua xử lý nhiệt, rồi “khu rủi ro cao” cho một số loại sản phẩm. Phòng vô trùng, phòng sạch đúng nghĩa, theo sổ tay, “chỉ cần khi xử lý vật liệu rất nguy hiểm, nguyên liệu rất nhạy hoặc thực phẩm nhạy cảm”.
Nói cách khác: câu hỏi đúng không phải “nhà máy tôi cần phòng sạch cấp mấy”. Câu hỏi đúng là “sản phẩm của tôi thuộc vùng nào, và vùng đó nằm ở đoạn nào trên dây chuyền”.
Năm vùng của BRCGS: sản phẩm của anh chị rơi vào vùng nào?
Phụ lục 2 của BRCGS Issue 9 cho định nghĩa từng vùng. Tôi tóm lại thành bảng, kèm ví dụ gần với nhà máy Việt Nam.
| Vùng | Sản phẩm phải thỏa | Ví dụ | Đòi hỏi chính |
|---|---|---|---|
| High-risk | Bảo quản lạnh hoặc đông; mọi thành phần đã qua nấu chín tối thiểu 70 °C trong 2 phút hoặc tương đương; ăn liền | Thịt nguội thái lát, món ăn nấu sẵn, giáp xác đã luộc | Tường ngăn vật lý; không chấp nhận tách theo ca; không khí lọc, áp dương so với vùng quanh |
| High-care | Bảo quản lạnh hoặc đông; thành phần đã qua bước giảm vi sinh (thường 1–2 log); ăn không nấu lại | Bánh mì kẹp, salad sơ chế | Nên có tường ngăn; nếu không phải có đánh giá rủi ro và quy trình đã thẩm định |
| Ambient high-care | Nguyên liệu dễ nhiễm mầm bệnh như Salmonella; có bước diệt; thành phẩm bảo quản nhiệt độ thường; ăn liền | Sữa bột từ sữa tươi, bơ đậu phộng từ đậu sống, sô-cô-la từ hạt ca cao | Đánh giá rủi ro bằng văn bản về luồng, không khí, tiện ích |
| Low-risk | Sản phẩm không cho mầm bệnh phát triển, hoặc sẽ qua bước diệt về sau | Nhiều sản phẩm nước quả, đồ hộp, hàng sẽ được nấu | Thực hành sản xuất tốt, chống dị vật, chống dị ứng |
| Sản phẩm kín | Sản phẩm đã đóng kín, không tiếp xúc môi trường | Kho thành phẩm, kho bao bì | Kiểm soát nhiệt độ, sắp xếp |

Áp vào vài sản phẩm Việt Nam hay làm, đây là cách tôi đọc. Mỗi nhà máy vẫn phải làm đánh giá rủi ro của riêng mình, vì chỉ cần đổi cách dùng của người tiêu dùng là vùng đổi.
Hồ tiêu, quế, hồi tiệt trùng hơi nước. Nguyên liệu dễ nhiễm Salmonella, có bước diệt khuẩn, thành phẩm để ở nhiệt độ thường, người dùng rắc thẳng lên món ăn. Bốn điều kiện của ambient high-care đều đúng. Nghĩa là phần xưởng sau thiết bị tiệt trùng, từ đầu ra tới máy đóng gói, phải được bảo vệ khỏi phần xưởng trước thiết bị. Sổ tay thiết kế nhà máy của Springer cũng xếp “hương liệu và gia vị” vào nhóm cơ sở có rủi ro cao hơn bình thường.
Quả cắt cấp đông IQF bán ăn liền. Nếu quả được rửa bằng dung dịch sát khuẩn rồi cấp đông và người mua dùng thẳng cho sinh tố, món tráng miệng, sản phẩm có thể rơi vào high-care. BRCGS dẫn đúng ví dụ salad sơ chế rửa nước clo. Nếu người mua cam kết nấu lại, hoặc nhãn có hướng dẫn nấu đã được thẩm định, vùng có thể hạ xuống. Chỗ này phải đọc hợp đồng và bảng thông số của người mua trước khi vẽ mặt bằng.
Tôm, giáp xác luộc chín. BRCGS nói thẳng: giáp xác đã luộc chín xếp vào high-risk, và hướng dẫn nấu trên bao bì không đủ để hạ vùng, vì nhiều người ăn lạnh. Nhà máy tôm luộc là nơi tường ngăn vật lý và không khí lọc là bắt buộc.
Nước quả cô đặc, puree chiết vô trùng vào drum. Sản phẩm đi trong ống kín từ bộ tiệt trùng tới đầu chiết. Rủi ro tái nhiễm nằm ở đầu chiết và túi vô trùng, tức là ở thiết bị và quy trình tiệt trùng đầu chiết, không nằm ở số hạt bụi của cả gian phòng. Làm phòng sạch quanh một quá trình kín là tiêu tiền vào chỗ sản phẩm không chạm tới.
Đầu tư thừa nằm ở đâu
Tôi gặp bốn kiểu tiêu thừa lặp đi lặp lại.
Một: làm sạch cả xưởng thay vì một đoạn. Vùng cần bảo vệ bắt đầu từ bước diệt khuẩn hoặc bước giảm vi sinh, kéo tới chỗ sản phẩm được đóng kín. Khu tiếp nhận, rửa, phân loại, chần, ép là vùng low-risk. Bọc cả xưởng bằng panel phòng sạch, lắp trần kín và cấp gió lọc cho cả khu tiếp nhận quả là trả tiền để bảo vệ quả còn dính đất.
Hai: mua cấp lọc của dược. Sổ tay thiết kế nhà máy thực phẩm (chương HVAC) giải thích rằng lọc HEPA giữ lại khoảng 95–99,999% hạt 0,3 µm, và lọc càng tinh thì lưu lượng qua lọc càng giảm, tổn áp càng tăng, kéo theo cả vốn đầu tư lẫn chi phí vận hành. Chương thiết kế của cùng sổ tay nhắc thêm: lọc HEPA cần bảo trì nhiều, phải thay định kỳ, và phải đặt ở chỗ dễ tiếp cận. Một hệ HEPA không ai thay lọc đúng hạn còn tệ hơn một hệ lọc thô được bảo trì tốt.
Ba: đầu tư vào không khí, bỏ quên nước và người. Điều 8.1.2 của BRCGS liệt kê những thứ phải tính khi phân tách vùng high-risk: luồng sản phẩm, vật liệu, bao bì, thiết bị, con người, hóa chất, rác thải, luồng khí, chất lượng khí, và tiện ích “bao gồm cống thoát nước”. Điều 8.2.1 đòi bản đồ cống của vùng high-risk và high-care, có hướng chảy. Tôi đã thấy phòng có áp dương đẹp nhưng cống chảy từ khu bẩn sang khu sạch. Đoàn đánh giá nhìn sàn trước khi nhìn đồng hồ áp.
Bốn: xây phòng trước, viết quy trình sau. Điều 8.4.1 đòi người vào vùng high-risk, high-care phải đi qua phòng thay đồ riêng ở cửa vùng, có thứ tự thay đồ, quần áo khác màu không mặc ra ngoài, rửa tay sau khi đội mũ và đi giày nhưng trước khi chạm quần áo sạch, giày riêng của nhà máy. Phòng thay đồ đặt sai chỗ trên bản vẽ là phải đập tường. Đây là thứ phải chốt ở giai đoạn layout, không phải lúc hoàn thiện.
Thiếu ở đâu thì mất chứng nhận
Đầu tư thừa tốn tiền. Đầu tư thiếu ở đúng chỗ thì tốn cả chứng nhận.
BRCGS Issue 9 có 12 nhóm yêu cầu “cơ bản”. Một trong số đó là mục 4.3: bố trí mặt bằng, luồng sản phẩm và phân tách. Không đạt ý chính của một yêu cầu cơ bản là không được cấp chứng nhận ở lần đánh giá đầu, hoặc bị thu hồi ở lần sau. Với vùng high-risk, BRCGS viết rõ: tường ngăn kín là rào chắn lý tưởng, nhà máy xây mới được kỳ vọng dùng tường ngăn kín, và tách theo thời gian (chạy ca sạch, ca bẩn trên cùng một chỗ) không được chấp nhận thay cho tách vật lý.

Với không khí, điều 8.2.2 chỉ đòi một điều: vùng high-risk phải được cấp đủ số lần đổi không khí đã lọc. Cấp lọc và số lần đổi gió phải ghi thành văn bản, dựa trên đánh giá rủi ro có tính tới nguồn gió và yêu cầu giữ áp dương so với vùng xung quanh. BRCGS không cho con số. Nhà máy phải tự tính và tự chứng minh. Đó là việc của thiết kế công nghệ, không phải việc của nhà thầu panel.
Có một rủi ro không nằm trong bảng đếm hạt nhưng rất hay gặp ở khí hậu Việt Nam: ngưng tụ. Sổ tay thiết kế nhà máy của Springer dành riêng một phần để tính khi nào hơi nước trong phòng ngưng trên trần lạnh hay ống lạnh. Phòng đóng gói sau thiết bị làm lạnh, độ ẩm ngoài trời cao, trần panel lạnh, là chỗ nước nhỏ giọt xuống sản phẩm hở. Một giọt nước từ trần là một mối nguy vi sinh mà không bộ lọc HEPA nào chặn được.
Bảng tự kiểm: đủ hay thừa
| Câu hỏi | Nếu trả lời “có” | Nếu trả lời “không” |
|---|---|---|
| Sản phẩm có bước diệt khuẩn hoặc giảm vi sinh trên dây chuyền? | Vùng cần bảo vệ bắt đầu ngay sau bước đó | Vùng thường là low-risk, trọng tâm là GMP |
| Sau bước đó, sản phẩm có hở ra không khí trước khi đóng kín? | Đoạn hở đó là đoạn cần đầu tư | Quá trình kín: đầu tư vào thiết bị, không vào phòng |
| Thành phẩm có được ăn mà không nấu lại? | Xét high-risk, high-care hoặc ambient high-care | Thường low-risk, nếu hướng dẫn nấu đã được thẩm định |
| Người mua có ghi yêu cầu vùng, cấp lọc trong bảng thông số? | Thiết kế theo bảng của họ, không cao hơn | Thiết kế theo đánh giá rủi ro, ghi thành văn bản |
| Cống, luồng người, phòng thay đồ đã có trên bản vẽ? | Mới bàn tới HVAC | Dừng mời thầu, quay lại layout |
Phần bài viết không làm thay được
Bài viết đưa được cách đọc. Nó không làm được những việc sau cho nhà máy của anh chị:
- Xếp từng dòng sản phẩm vào đúng vùng theo Phụ lục 2 của BRCGS, kèm đánh giá rủi ro bằng văn bản mà đoàn đánh giá chấp nhận.
- Vẽ ranh giới vùng trên mặt bằng thật: bước diệt khuẩn đặt ở đâu trên tường ngăn, cửa chuyển hàng, phòng thay đồ, hướng cống.
- Tính số lần đổi gió, cấp lọc và chênh áp cho đúng đoạn cần bảo vệ, có tính ngưng tụ trong khí hậu nóng ẩm.
- Viết đầu bài kỹ thuật cho gói thi công, để báo giá không còn dòng “ISO 8 toàn xưởng”.
Đó là phần việc của thiết kế công nghệ. Nếu anh chị đang chuẩn bị xây hoặc cải tạo một xưởng thực phẩm và muốn biết đoạn nào thật sự cần bảo vệ, hãy bắt đầu bằng một phiên chẩn đoán dự án: 45–60 phút, không tính phí. Mang theo bản vẽ mặt bằng và danh sách sản phẩm, chúng ta tô vùng trước khi bàn tới panel.
Đọc thêm:
- Layout nhà máy thực phẩm: 15 phút là đoàn audit EU nhìn ra sai
- Chi phí tiệt trùng hơi nước hồ tiêu: thông số và hồ sơ chủ đầu tư phải đòi
- Mùa cao điểm, ai được quyền dừng dây chuyền IQF để vệ sinh?
- HACCP và ISO 22000 khác nhau ở đâu — nhìn từ phía người ký séc
- Drum vô trùng 200 kg: vì sao cả thế giới đóng puree kiểu này
Chọn thị trường trước, chọn máy sau.
Nguồn tham khảo
- BRCGS. Global Standard Food Safety, Issue 9, tháng 8/2022: điều 4.3.1 và 4.3.2 (đánh giá vùng rủi ro sản xuất, bản đồ mặt bằng), mục “Yêu cầu cơ bản” (12 nhóm, gồm 4.3 bố trí mặt bằng, luồng sản phẩm và phân tách; không đạt là không được cấp chứng nhận), điều 8.1.2–8.1.4 (phân tách high-risk, high-care, ambient high-care), 8.2.1–8.2.2 (bản đồ cống; không khí lọc và áp dương cho high-risk, thông số theo đánh giá rủi ro), 8.4.1 (phòng thay đồ); Phụ lục 2 (định nghĩa các vùng, mốc nấu chín 70 °C trong 2 phút, giảm 1–2 log cho high-care, giáp xác luộc xếp high-risk, tách theo thời gian không chấp nhận cho high-risk). brcgs.com
- Ủy ban châu Âu. EU Guidelines for Good Manufacturing Practice for Medicinal Products, Annex 1: Manufacture of Sterile Medicinal Products, C(2022) 5938 final, 22/08/2022: điểm 4.14 (phòng kề nhau khác cấp chênh áp tối thiểu 10 Pa, giá trị hướng dẫn), Bảng 1 (cấp D: tối đa 3.520.000 hạt ≥0,5 µm/m³ khi phòng nghỉ). health.ec.europa.eu
- Baker C.G.J. (chủ biên). Handbook of Food Factory Design. Springer, 2013 — chương 12 (Wallin, Design Principles), mục 12.4.5–12.4.7, tr. 312–313 (khu sạch, khu rủi ro cao, nhóm cơ sở rủi ro cao gồm hương liệu và gia vị, phòng vô trùng chỉ cần cho trường hợp đặc biệt, lọc HEPA cần bảo trì nhiều); chương 16 (HVAC), mục 16.8.2.1 (HEPA giữ khoảng 95–99,999% hạt 0,3 µm, lọc tinh hơn thì tổn áp, vốn và chi phí vận hành cao hơn) và phần tính ngưng tụ.
- Kinh nghiệm dự án của tác giả: cách đọc vùng cho hồ tiêu tiệt trùng, quả cắt IQF, tôm luộc, cô đặc chiết vô trùng; bốn kiểu đầu tư thừa; bảng tự kiểm.
Bài viết của Paul Nguyen, tổng hợp từ các nguồn trên (truy cập tháng 10/2026) và kinh nghiệm thiết kế nhà máy chế biến thực phẩm. Cách xếp vùng cho từng sản phẩm Việt Nam là cách đọc tham khảo; mỗi nhà máy phải tự đánh giá rủi ro theo Phụ lục 2 của BRCGS và theo yêu cầu riêng của người mua. Ảnh đại diện: nền ảnh của Anna Shvets trên Pexels (https://www.pexels.com/photo/5953796/).





